Không nhớ giờ sinh có xem Tử Vi được không?
Câu trả lời thẳng: chưa, nếu bạn muốn một lá số đúng. Tử Vi lập lá số từ năm, tháng, ngày, giờ sinh âm lịch và giới tính; thiếu giờ thì cung Mệnh không có chỗ đứng, và mọi thứ an theo cung Mệnh cũng mất chỗ đứng theo. Một lá số lập với giờ đoán bừa là lá số của một người khác.
Nhưng "chưa" khác với "không bao giờ". Giờ sinh là một sự việc có thật, từng được ai đó ghi lại hoặc chứng kiến. Nếu giấy tờ và trí nhớ đều không còn, vẫn còn một nguồn nữa: chính những năm bạn đã sống. Thầy Tử Vi xưa nay vẫn tìm giờ sinh bằng cách lập lá số ở vài khung giờ nghi ngờ rồi xem lá số nào kể đúng đời người đến hỏi.
Bài này đi theo đúng thứ tự ấy: vì sao Tử Vi cần giờ sinh, nên làm gì khi mẫu nhập lá số bắt điền giờ mà bạn không có, những cách tìm lại giờ sinh xếp theo độ đáng tin, và cách đối chiếu lá số với đời thực sao cho không tự lừa mình.
Vì sao Tử Vi cần giờ sinh?
Trên lá số, giờ sinh làm ba việc. Việc thứ nhất là đặt cung Mệnh: từ cung Dần kể là tháng Giêng, đếm thuận đến tháng sinh, rồi từ cung ấy kể là giờ Tý, đếm nghịch đến giờ sinh. Cung dừng lại là cung Mệnh; mười một cung còn lại xếp quanh nó theo thứ tự cố định. Đổi giờ sinh là xoay cả vòng mười hai cung.
Việc thứ hai là đặt cung Thân: cũng từ cung tháng sinh, nhưng đếm thuận đến giờ sinh. Vì thế Thân cư cung nào chỉ phụ thuộc vào giờ: sinh giờ Tý hay Ngọ thì Mệnh Thân đồng cung, giờ Sửu hay Mùi thì Thân cư Phúc Đức, giờ Dần hay Thân thì Thân cư Quan Lộc, giờ Mão hay Dậu thì Thân cư Thiên Di, giờ Thìn hay Tuất thì Thân cư Tài Bạch, giờ Tỵ hay Hợi thì Thân cư Phu Thê.
Việc thứ ba kín hơn: can chi của cung Mệnh định ra Cục, từ Thủy nhị cục đến Hỏa lục cục. Cục cùng ngày sinh định vị trí sao Tử Vi, và mười ba chính tinh còn lại bày theo Tử Vi và Thiên Phủ. Nói cách khác, giờ sinh không chỉ xoay nhãn cung mà có thể đổi luôn bộ sao đứng trong từng cung. Ngoài ra còn một nhóm sao an trực tiếp theo giờ: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thai Phụ, Phong Cáo.
| Thay đổi theo giờ sinh | Không đổi theo giờ sinh |
|---|---|
| Vị trí cung Mệnh và nhãn của mười hai cung | Âm dương nam nữ, bản mệnh nạp âm, chiều đi của đại hạn |
| Cung Thân | Tứ Hóa (theo can năm): sao nào hóa Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ |
| Cục, và từ đó tuổi khởi đại hạn | Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La, Thiên Khôi, Thiên Việt (theo can năm) |
| Vị trí Tử Vi, Thiên Phủ và cả 14 chính tinh | Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Hình, Thiên Riêu (theo tháng) |
| Độ miếu hãm của từng sao, vì sao đổi cung | Tuần, Triệt, vòng Thái Tuế, Thiên Mã (theo năm) |
| Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thai Phụ, Phong Cáo |
Cột bên phải giải thích vì sao hai lá số lập ở hai giờ khác nhau vẫn có vài điểm giống nhau: Tứ Hóa vẫn rơi vào cùng những sao ấy, Tuần Triệt vẫn ở cùng hai cặp cung ấy. Nhưng vì nhãn cung đã xoay, Hóa Kỵ đang ở cung Tài Bạch của lá số này có thể thành Hóa Kỵ ở cung Phu Thê của lá số kia. Bạn có thể tự kiểm tra bằng cách lập lá số miễn phí hai lần với hai giờ khác nhau.
Một ngày sinh, ba giờ liền nhau, ba lá số khác nhau
Lấy một ví dụ minh họa: người nữ sinh ngày 12/08/1994 tại Hà Nội, tức ngày 6 tháng 7 năm Giáp Tuất. Dữ liệu này cũng được dùng trong bài cách xem lá số Tử Vi. Giữ nguyên ngày, chỉ dịch giờ sinh qua ba khung liền nhau:
| Giờ sinh | Cung Mệnh | Chính tinh thủ Mệnh | Cung Thân | Cục |
|---|---|---|---|---|
| Tỵ (09:00–10:59) | Mão | Thái Âm hãm | Thân cư Phu Thê (tại Sửu) | Hỏa lục cục |
| Ngọ (11:00–12:59) | Dần | Tử Vi, Thiên Phủ cùng miếu | Mệnh Thân đồng cung | Hỏa lục cục |
| Mùi (13:00–14:59) | Sửu | Thái Dương, Thái Âm cùng đắc | Thân cư Phúc Đức (tại Mão) | Thủy nhị cục |
Ba khung giờ cách nhau hai tiếng, ba con người khác nhau trên giấy. Giờ Tỵ và giờ Ngọ cùng Hỏa lục cục nên Tử Vi vẫn ở Dần, nhưng cung Mệnh đã dời từ Mão sang Dần, nên một lá số có Mệnh Thái Âm hãm, lá số kia có Mệnh Tử Vi Thiên Phủ. Sang giờ Mùi, Cục đổi thành Thủy nhị cục, Tử Vi dời sang Thìn và cả bộ chính tinh bày lại. Các sao an theo giờ cũng dời theo: Văn Xương lần lượt ở Tỵ, Thìn, Mão; Địa Không ở Ngọ, Tỵ, Thìn. Trong khi đó Tả Phù vẫn ở Tuất, Lộc Tồn vẫn ở Dần, Tuần và Triệt vẫn phủ cặp Thân Dậu ở cả ba lá số, đúng như bảng trên.
Người đọc lá số theo giờ Ngọ sẽ được nghe về một người đứng đầu, ưa làm chủ; người đọc theo giờ Tỵ sẽ được nghe về một người nhạy cảm, hay lo nghĩ. Nếu giờ sinh thật là Mùi, cả hai bài đều không phải của người ấy.
Không biết giờ sinh thì để mấy giờ?
Đây là câu nhiều người gõ ngay khi đứng trước mẫu nhập lá số. Câu trả lời ngắn: đừng để đại một giờ. Điền 12:00 vì "cho tròn" là bạn đang chọn giờ Ngọ, một trong mười hai khả năng, rồi đọc một lá số có mười một phần mười hai cơ hội không phải của mình. Điền 00:00 cũng vậy, lại còn vướng thêm quy ước giờ Tý và ngày.
Nếu bạn nhớ được buổi sinh, hãy dùng điều đó. Mẫu lập lá số của Huyền Cơ cho phép chọn theo canh giờ thay vì giờ phút, nên "khoảng sáng sớm, trời chưa rõ mặt người" đã đủ thu về hai canh Dần và Mão. Lập hai lá số, đọc cả hai, rồi làm bước đối chiếu ở phần dưới. Cách thu hẹp về buổi được hướng dẫn kỹ trong bài cách xác định giờ sinh.
Nếu bạn không nhớ cả buổi, có hai lựa chọn trung thực. Một là xem Bát Tự với ba trụ năm, tháng, ngày: Bát Tự lập được khi thiếu giờ, chỉ mất trụ giờ và những gì suy từ trụ giờ, nên vẫn đọc được nhật chủ, ngũ hành và đại vận. Hai là coi việc tìm lại giờ sinh là một việc riêng, làm cho xong trước khi đọc Tử Vi, theo các bước dưới đây.
Tìm lại giờ sinh theo thứ tự đáng tin
Mọi lời khuyên về giờ sinh đều nằm trong năm nhóm. Chúng không ngang nhau: nhóm trên cho bạn một giờ, nhóm dưới chỉ cho một khả năng.
| Thứ tự | Cách | Kết quả thu được | Độ tin cậy |
|---|---|---|---|
| 1 | Giấy tờ: giấy chứng sinh, sổ khám thai, hồ sơ bệnh viện, sổ của trạm y tế | Giờ và phút | Cao, vì ghi ngay lúc sinh |
| 2 | Người có mặt lúc sinh, hỏi kèm mốc nhớ | Một khoảng một đến hai tiếng | Khá, nếu có mốc cụ thể |
| 3 | Thu hẹp về một buổi | Hai đến ba canh giờ | Trung bình: chưa ra giờ, nhưng loại được chín canh |
| 4 | Lập lá số ở từng khung giờ nghi ngờ, đối chiếu với đời thực | Một giờ, kèm lý do | Khá, khi làm nghiêm túc với vài sự kiện có năm rõ |
| 5 | Dấu hiệu dân gian: xoáy tóc, tướng ngủ, ngón út | Một nhóm bốn giờ, hay sai | Thấp |
Giấy tờ trước hết. Mẫu giấy chứng sinh do cơ sở y tế cấp có dòng ghi giờ phút em bé ra đời; cha mẹ thường giữ bản này để đi khai sinh, và bệnh viện lưu sổ sinh nhiều năm. Sổ khám thai, sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em, giấy ra viện cũng hay có giờ sinh. Giấy khai sinh thì thường chỉ ghi ngày tháng năm. Một dòng chữ viết lúc ấy đáng tin hơn bất kỳ phép đoán nào về sau.
Hỏi người có mặt, nhưng hỏi bằng mốc nhớ. "Con sinh lúc mấy giờ?" thường chỉ nhận được "sáng sớm". Hỏi "lúc đó gà gáy chưa, mẹ tan chợ chưa, đài đã phát bản tin chưa, bố đi làm về chưa, trời tối hẳn chưa" thì trí nhớ bám được vào việc, và việc ấy quy được ra giờ. Bà đỡ, bà ngoại, người chở mẹ đi sinh đôi khi nhớ rõ hơn chính mẹ.
Thu hẹp về một buổi. Khi chỉ còn "khoảng chiều", bạn đã loại được chín canh giờ và chỉ còn Mùi, Thân, Dậu. Từ ba lá số, bước đối chiếu bên dưới mới có thể làm được; từ mười hai lá số thì không.
Dấu hiệu dân gian xếp cuối không phải vì chúng vô nghĩa, mà vì các nguồn mâu thuẫn nhau ở chính chỗ cần rõ, và những người tự kiểm tra trên diễn đàn báo lại tỉ lệ đúng quanh một nửa. Bài xem xoáy tóc, tướng ngủ đoán giờ sinh nêu từng quy tắc và chỗ chúng bất đồng.
Cách thầy Tử Vi dò giờ sinh: lập lá số ở từng khung giờ rồi đối chiếu với đời thực
Đây là bước mà các trang tử vi đều khuyên và đều để bạn tự làm. Nguyên lý rất đơn giản: mỗi khung giờ nghi ngờ cho một lá số, mỗi lá số kể một đời người theo từng năm, còn đời bạn thì chỉ có một. Khung giờ nào kể đúng là khung giờ của bạn.
Chọn ứng viên. Hai đến bốn khung giờ từ bước thu hẹp. Nếu một ứng viên là giờ Tý, nhớ rằng sinh từ 23:00 đến 23:59 được tính sang ngày hôm sau theo quy ước Huyền Cơ dùng, nên lá số ấy khác hẳn lá số giờ Hợi liền trước; bài sinh sát ranh giới hai giờ nói kỹ về trường hợp này và về người sinh ở miền Nam trước năm 1975.
Lập từng lá số. Dùng công cụ lập lá số với cùng ngày, cùng giới tính, chỉ đổi giờ. Ghi lại cho từng lá số: cung Mệnh và chính tinh thủ Mệnh, cung Thân, đại hạn đang đi, và điều lá số nói về hai năm vừa qua.
Đối chiếu bằng sự việc có năm rõ, không bằng tính cách. Ai cũng thấy mình "vừa mạnh mẽ vừa nhạy cảm", nên tính cách là thước đo tồi. Thước đo tốt là những việc có ngày tháng: năm đổi việc, năm cưới, năm sinh con, năm chuyển nhà, năm gia đình có biến cố lớn, năm làm ăn được hay thua lỗ. Bài đại hạn, tiểu hạn và lưu niên hướng dẫn đọc vận hạn theo năm; với mỗi lá số ứng viên, hỏi: năm ấy lá số này nói gì, có khớp với việc đã xảy ra không.
Vì sao nên lấy hai năm gần nhất. Trí nhớ về hai năm vừa qua rõ ràng hơn hẳn trí nhớ về mười năm trước, và lưu niên của hai lá số lập ở hai giờ khác nhau thường rẽ ra rất xa, vì cung Mệnh khác nên cung lưu niên đóng cũng khác. Hai năm gần nhất là chỗ dễ phân thắng bại mà ít phải nhớ lại.
Ba bẫy cần tránh. Thứ nhất, đọc hết mọi ứng viên trước khi chấm điểm, đừng đọc lá số thứ nhất rồi gật gù, vì lá số nào cũng có vài câu nghe như nói về mình. Thứ hai, chấm bằng chỗ sai, không chỉ bằng chỗ đúng: một lá số nói năm ngoái bạn thăng tiến trong khi năm ngoái bạn thất nghiệp thì phải bị loại, dù những câu khác nghe hay đến đâu. Thứ ba, đừng chọn lá số mình thích; Mệnh Tử Vi Thiên Phủ nghe sang hơn Mệnh Thái Âm hãm, nhưng đời bạn không vì thế mà đổi.
Huyền Cơ dò giờ sinh cho bạn như thế nào?
Bước đối chiếu ở trên là việc mất nhiều giờ nếu tự làm, và khó làm công bằng với chính mình. Huyền Cơ làm hộ phần nặng: lập lá số ở từng khung giờ bạn nghi ngờ, luận hai năm gần nhất của mỗi khung thành một bài riêng, bạn đọc và chọn bài đúng với đời mình, rồi nhận lá số cùng bản luận giải đầy đủ theo giờ đã tìm ra. Đây là dịch vụ có phí. Bạn chỉ cần biết ngày sinh và giới tính; càng thu hẹp được buổi, các bài so sánh càng ít và càng dễ chọn. Xem chi tiết tại trang tìm giờ sinh để xem Tử Vi.
Nếu vẫn không tìm ra giờ sinh thì sao?
Có những trường hợp không còn giấy tờ, không còn ai để hỏi, và hai năm gần đây bình lặng đến mức lá số nào cũng kể được. Khi đó, điều nên làm là không ép ra một giờ.
Bạn vẫn có ba cách dùng được. Bát Tự với ba trụ cho bạn nhật chủ, ngũ hành vượng suy và đại vận mà không cần giờ. Một câu hỏi cụ thể đang cần quyết định thì hợp với gieo quẻ Kinh Dịch hơn là với lá số trọn đời. Và nếu vẫn muốn một lá số Tử Vi, hãy lập ở khung giờ bạn thấy hợp lý hơn cả, nhưng ghi rõ cho mình rằng đó là lá số tạm, đọc để tham khảo khuynh hướng, không dựa vào đó để quyết việc lớn, và cũng không nên mua một bản luận giải trọn đời trên một giờ đoán.
Người xem bản đồ sao phương Tây cũng gặp bài toán này
Trong chiêm tinh phương Tây, cung Mọc đổi khoảng hai tiếng một lần, nên người không nhớ giờ sinh cũng không lập được bản đồ sao đầy đủ, và cũng có một phép tìm lại giờ bằng cách so các mốc đời với bản đồ ở từng giờ. Nguyên lý giống Tử Vi: đời thực là thước đo, giờ sinh là ẩn số. Bài này chỉ bàn Tử Vi; nếu bạn tìm giờ sinh cho bản đồ sao, các bước tìm giấy tờ và hỏi người thân vẫn dùng được nguyên, còn phần đối chiếu thì phải làm trên bản đồ sao.
Tóm lại nên làm gì?
Tìm giấy chứng sinh và sổ khám thai trước. Chưa có thì hỏi người có mặt lúc sinh bằng những mốc cụ thể. Thu được một buổi rồi thì lập lá số ở từng canh giờ trong buổi ấy, đối chiếu với những năm có việc rõ ràng, chấm bằng chỗ sai. Dấu hiệu dân gian chỉ dùng để phân vân giữa hai ứng viên cuối. Và nếu muốn có người làm phần đối chiếu cho mình, Huyền Cơ có dịch vụ dò giờ sinh như đã nói ở trên.