Tìm giờ sinh ở đâu?
Giờ sinh nằm ở ba nơi: trên giấy tờ lập lúc sinh, trong trí nhớ của người có mặt, và trong chính cuộc đời đã sống của người ấy. Hai nơi đầu cho bạn một con số; nơi thứ ba cho bạn một kết luận phải suy ra. Bài này đi qua năm cách theo đúng thứ tự đó, vì cách nào cũng chỉ nên dùng khi cách trước đã hết đường.
Nếu bạn chưa rõ vì sao giờ sinh lại quan trọng đến vậy, bài không nhớ giờ sinh có xem Tử Vi được không có bảng những gì trên lá số đổi theo giờ.
Cách 1: Tìm trong giấy tờ
Giấy chứng sinh có ghi giờ sinh không? Có. Mẫu giấy chứng sinh do bệnh viện, nhà hộ sinh hoặc trạm y tế cấp có dòng ghi em bé sinh lúc mấy giờ mấy phút, ngày nào. Đây là giấy cha mẹ cầm đi đăng ký khai sinh, nên nhiều gia đình vẫn giữ trong tập hồ sơ cùng giấy khai sinh và sổ hộ khẩu cũ. Hãy hỏi mẹ, bà, hoặc người giữ giấy tờ của gia đình trước khi làm bất cứ việc gì khác.
Giấy khai sinh thì thường chỉ ghi ngày, tháng, năm sinh, không có giờ. Nếu bạn chỉ có giấy khai sinh, đừng dừng ở đó.
Những giấy tờ khác hay có giờ sinh:
- Sổ khám thai, sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Trang ghi cuộc sinh thường có giờ, cân nặng, cách sinh.
- Giấy ra viện, phiếu theo dõi sau sinh, hóa đơn viện phí. Giấy ra viện đôi khi ghi giờ sinh; hóa đơn và phiếu theo dõi cho biết mẹ nhập viện và xuất viện lúc nào, từ đó khoanh được buổi.
- Sổ sinh của bệnh viện hoặc trạm y tế. Cơ sở y tế lưu sổ sinh nhiều năm. Với người sinh ở bệnh viện lớn, phòng kế hoạch tổng hợp hoặc phòng lưu trữ hồ sơ có thể tra theo tên mẹ và ngày sinh; hãy mang giấy tờ tùy thân và chuẩn bị tên đầy đủ của mẹ, năm sinh của mẹ và ngày sinh của bạn.
- Ảnh và tin nhắn. Với người sinh từ khoảng năm 2010 trở lại, tấm ảnh chụp bằng điện thoại ngay sau sinh có giờ chụp lưu trong thông tin ảnh, tin nhắn báo "mẹ tròn con vuông" có giờ gửi. Chúng cho mốc muộn hơn giờ sinh thật vài phút đến một giờ, đủ để khoanh canh.
- Sổ tay, lịch bloc, thiệp mừng, nhật ký của ông bà. Nhiều gia đình ghi giờ sinh của cháu vào trang lịch hôm đó để sau này xem tuổi.
- Giấy tờ nước ngoài. Giấy khai sinh của nhiều nước ghi giờ sinh; người sinh ở nước ngoài nên tra bản sao giấy khai sinh gốc. Khi lập lá số, chọn đúng nơi sinh để giờ được tính theo múi giờ nơi ấy.
Một dòng chữ ghi ngay lúc sinh đáng tin hơn mọi phép suy luận về sau. Nếu tìm được, bạn đã xong; nếu giấy ghi 10:58 và bạn băn khoăn ranh giới canh giờ, bài sinh sát ranh giới hai giờ dành cho trường hợp ấy.
Cách 2: Hỏi người có mặt lúc sinh, bằng mốc nhớ
Trí nhớ không lưu giờ đồng hồ; nó lưu việc. Hỏi "con sinh lúc mấy giờ" thường chỉ được "sáng" hay "tối". Hỏi theo việc thì khác hẳn. Một bảng mốc nhớ thường dùng:
| Mốc nhớ | Thường ứng với |
|---|---|
| Gà gáy lần đầu, trời chưa sáng | Khoảng giờ Dần (03:00–04:59) |
| Trời rõ mặt người, đi chợ sớm | Giờ Mão (05:00–06:59) |
| Đài phát bản tin sáng, giờ đi làm | Giờ Thìn (07:00–08:59) |
| Tan chợ, nắng lên cao | Giờ Tỵ (09:00–10:59) |
| Cơm trưa, nghỉ trưa | Giờ Ngọ (11:00–12:59) |
| Đầu giờ chiều, đi làm lại | Giờ Mùi (13:00–14:59) |
| Tan trường, nắng xiên | Giờ Thân (15:00–16:59) |
| Chập tối, lên đèn, cơm chiều | Giờ Dậu (17:00–18:59) |
| Bản tin thời sự tối, phim tối | Giờ Tuất (19:00–20:59) |
| Cả nhà đi ngủ | Giờ Hợi (21:00–22:59) |
| Nửa đêm | Giờ Tý (23:00–00:59) |
| Quá nửa đêm, chưa gà gáy | Giờ Sửu (01:00–02:59) |
Bảng này là gợi ý để mở cuộc trò chuyện, không phải bảng tra: giờ đài phát tin, giờ tan chợ, giờ tan trường mỗi nơi mỗi thời một khác. Việc của bạn là ghi lại mốc rồi tự quy ra giờ theo nếp sống ở quê mình thời đó.
Vài câu hỏi hay mở được trí nhớ: mẹ đau bụng từ lúc nào và sinh sau đó bao lâu; ai đưa mẹ đi, bằng xe gì, trời lúc đó sáng hay tối; bố đang ở đâu khi nghe tin; bữa cơm nào bị bỏ dở; sinh xong bao lâu thì trời sáng hoặc tối. Người đỡ đẻ, bà ngoại, cô y tá là họ hàng, người hàng xóm chở đi, mỗi người giữ một mảnh. Ghép lại thường được một khoảng hai tiếng, đôi khi hẹp hơn.
Nhớ hỏi cả về đồng hồ: nhà có đồng hồ không, có chạy đúng không. Với người sinh ở miền Nam từ năm 1960 đến giữa năm 1975, đồng hồ khi ấy chạy trước giờ Việt Nam ngày nay một tiếng; bài về ranh giới giờ nói rõ nên xử lý thế nào.
Cách 3: Thu hẹp về một buổi
Nếu cách 1 và 2 chỉ cho "buổi sáng", bạn vẫn đã đi được một đoạn dài. Mười hai canh giờ là mười hai lá số; "buổi sáng" còn Thìn, Tỵ, có thể thêm Mão hoặc Ngọ, tức ba đến bốn lá số. Từ ba lá số, bước đối chiếu bên dưới làm được; từ mười hai lá số thì không, vì lá số nào cũng tìm được vài chỗ khớp.
Khi thu hẹp, đừng vội bỏ hai canh ở rìa. "Sáng sớm" với người thức khuya là 08:00, với người nhà nông là 04:00. Giữ ứng viên rộng hơn một canh so với cảm giác ban đầu, rồi để bước đối chiếu loại dần.
Cách 4: Lập lá số ở từng khung giờ rồi đối chiếu với đời thực
Đây là cách của thầy Tử Vi khi khách không nhớ giờ, và là cách mọi trang tử vi đều nhắc đến rồi để bạn tự làm. Nó dựa trên một điều hiển nhiên: hai lá số lập ở hai giờ khác nhau kể hai đời khác nhau, trong khi bạn chỉ sống một đời.
- Lập từng lá số ứng viên bằng công cụ lập lá số, cùng ngày, cùng giới tính, chỉ đổi giờ. Nếu một ứng viên là giờ Tý, lưu ý người sinh 23:00–23:59 được tính sang ngày hôm sau.
- Ghi cho mỗi lá số cung Mệnh và chính tinh thủ Mệnh, cung Thân, đại hạn đang đi, và điều lá số nói về hai năm vừa qua. Bài đại hạn, tiểu hạn và lưu niên hướng dẫn đọc phần theo năm.
- Liệt kê sự việc của đời mình có năm rõ: đổi việc, cưới, sinh con, chuyển nhà, một đợt nằm viện dài, biến cố lớn trong gia đình, làm ăn được hay thua. Ưu tiên hai đến ba năm gần nhất, vì nhớ rõ và vì lưu niên của các lá số ứng viên thường rẽ xa nhau ở đó.
- Chấm từng lá số bằng chỗ sai trước, chỗ đúng sau. Lá số nói năm ngoái bạn thăng tiến mà năm ngoái bạn nghỉ việc thì bị loại, dù các câu khác nghe hay đến đâu.
- Chỉ chọn sau khi đã đọc hết, và chọn lá số khớp với sự việc, không chọn lá số có chính tinh nghe sang.
Vài dấu hiệu dễ so trên lá số: Thân cư cung nào chỉ phụ thuộc giờ sinh, nên người có đời sống xoay quanh công việc hợp với Thân cư Quan Lộc (giờ Dần, Thân) hơn Thân cư Phu Thê (giờ Tỵ, Hợi); nhưng đây là gợi ý phụ, sự việc có năm vẫn là thước chính.
Cách này mất vài giờ nếu tự làm và khó công bằng với chính mình. Huyền Cơ làm phần nặng ấy: lập lá số ở từng khung giờ bạn nghi ngờ, luận hai năm gần nhất của mỗi khung thành một bài riêng, bạn chọn bài đúng với đời mình, rồi nhận lá số và bản luận giải theo giờ đã tìm ra. Đây là dịch vụ có phí.
Cách 5: Dấu hiệu dân gian
Xoáy tóc, tướng ngủ, ngón út, nét mặt: các quy tắc này chia mười hai giờ thành ba nhóm (Tý Ngọ Mão Dậu, Dần Thân Tỵ Hợi, Thìn Tuất Sửu Mùi) rồi gán mỗi nhóm một dấu hiệu. Chúng có hai điểm yếu. Một, kể cả khi đúng, bạn vẫn còn bốn giờ trong nhóm, tức bốn lá số khác nhau. Hai, các nguồn không thống nhất ở chính chỗ cần rõ, như xoáy lệch trái hay lệch phải thuộc nhóm nào, và những người tự kiểm tra trên diễn đàn báo lại tỉ lệ đúng quanh một nửa. Bài xem xoáy tóc, tướng ngủ, ngón út đoán giờ sinh nêu từng quy tắc và chỗ chúng bất đồng.
Chỗ dùng được của dấu hiệu dân gian: khi cách 4 còn phân vân giữa hai ứng viên cuối, và hai ứng viên ấy thuộc hai nhóm khác nhau.
Năm cách xếp theo độ tin cậy
| Cách | Cho ra | Độ tin cậy | Khi nào dùng |
|---|---|---|---|
| 1. Giấy tờ lập lúc sinh | Giờ và phút | Cao | Luôn tìm trước |
| 2. Người có mặt, hỏi bằng mốc nhớ | Khoảng một đến hai tiếng | Khá | Khi không còn giấy |
| 3. Thu hẹp về buổi | Hai đến bốn canh | Trung bình | Để chuẩn bị cho cách 4 |
| 4. Lập lá số từng khung giờ, đối chiếu đời thực | Một giờ, có lý do | Khá, nếu làm nghiêm túc | Khi đã có hai đến bốn ứng viên |
| 5. Dấu hiệu dân gian | Một nhóm bốn giờ, hay sai | Thấp | Chỉ để phân vân giữa hai ứng viên cuối |
Sau khi đã có giờ sinh
Hãy ghi giờ sinh vào ít nhất hai nơi, kèm nguồn: "10:40, theo giấy chứng sinh" hay "giờ Tỵ, theo đối chiếu đời thực năm 2026". Lần sau lập lá số, bạn sẽ biết mình đang đứng trên nền vững đến đâu. Nếu giờ sinh tìm được bằng cách 4, hãy coi nó là kết luận có thể xét lại khi đời có thêm sự việc mới, và đừng vội mua một bản luận giải trọn đời khi còn hai ứng viên ngang nhau.
Nếu bạn muốn có người làm bước đối chiếu cho mình, trang tìm giờ sinh để xem Tử Vi mô tả cách Huyền Cơ luận từng khung giờ để bạn chọn.