Trên lá số, Tuần và Triệt không nằm trong một cung như các sao khác mà được đặt ở ranh giới giữa hai cung liền nhau. Chúng không mang tính tốt hay xấu riêng; vai trò của chúng là thay đổi cách các sao trong hai cung đó thể hiện. Vì cả hai chỉ phụ thuộc năm sinh âm lịch, mọi người sinh cùng năm đều có Tuần, Triệt ở cùng hai địa chi; khác nhau là hai địa chi đó mang tên cung nào trên lá số của từng người.
Tuần và Triệt khác nhau thế nào?
| Tuần | Triệt | |
|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Tuần trung không vong | Triệt lộ không vong |
| An theo | Tuần giáp (nhóm mười năm can chi) chứa năm sinh | Thiên can của năm sinh |
| Phạm vi | Một cặp cung liền nhau | Một cặp cung liền nhau |
| Hình ảnh thường dùng | Một lớp màn: làm chậm, làm mờ, tác động dai | Một nhát cắt: chặn lại, đổi hướng, tác động mạnh |
| Giai đoạn tác động | Các sách không thống nhất | Các sách không thống nhất |
Về giai đoạn tác động, nhiều sách cho rằng Triệt rõ nhất ở nửa đầu cuộc đời còn Tuần âm ỉ lâu hơn; có sách lại lấy mốc khoảng 30 tuổi để chia. Lời giải thích trên lá số Huyền Cơ theo cách hiểu phổ biến: cả hai làm giai đoạn đầu vất vả hơn và nhẹ dần về sau. Hai mục ngắn về Tuần và Triệt cũng có trong bảng thuật ngữ.
Cách an Triệt theo can năm sinh
| Can năm sinh | Triệt đóng tại |
|---|---|
| Giáp, Kỷ | Thân – Dậu |
| Ất, Canh | Ngọ – Mùi |
| Bính, Tân | Thìn – Tỵ |
| Đinh, Nhâm | Dần – Mão |
| Mậu, Quý | Tý – Sửu |
Hai can ngũ hợp với nhau (Giáp với Kỷ, Ất với Canh, Bính với Tân, Đinh với Nhâm, Mậu với Quý) có cùng vị trí Triệt, nên chỉ cần nhớ năm dòng.
Cách an Tuần theo tuần giáp
Sáu mươi năm can chi chia thành sáu tuần, mỗi tuần mười năm mở đầu bằng một năm Giáp. Mười thiên can chỉ ghép được với mười địa chi, nên mỗi tuần bỏ trống hai địa chi; hai địa chi đó là vị trí của Tuần.
| Tuần giáp | Năm sinh âm lịch | Tuần đóng tại |
|---|---|---|
| Giáp Tý đến Quý Dậu | 1924–1933, 1984–1993 | Tuất – Hợi |
| Giáp Tuất đến Quý Mùi | 1934–1943, 1994–2003 | Thân – Dậu |
| Giáp Thân đến Quý Tỵ | 1944–1953, 2004–2013 | Ngọ – Mùi |
| Giáp Ngọ đến Quý Mão | 1954–1963, 2014–2023 | Thìn – Tỵ |
| Giáp Thìn đến Quý Sửu | 1964–1973, 2024–2033 | Dần – Mão |
| Giáp Dần đến Quý Hợi | 1974–1983 | Tý – Sửu |
Năm sinh ở đây là năm âm lịch, đổi năm tại Tết. Người sinh tháng 1 hoặc đầu tháng 2 dương lịch, trước Tết, thuộc năm âm lịch trước đó và có thể thuộc tuần giáp khác.
Một số năm có Tuần và Triệt trùng đúng một cặp cung, như Mậu Ngọ 1978, Quý Hợi 1983, Giáp Tuất 1994, Kỷ Mão 1999, Ất Dậu 2005 và Canh Dần 2010. Người sinh các năm tuần Giáp Tý (1984–1993) thì không bao giờ gặp trường hợp này, vì không can nào có Triệt ở Tuất – Hợi.
Tuần, Triệt tác động lên cung như thế nào?
Theo cách hiểu phổ biến trong sách Tử Vi Việt Nam:
- Sao tốt gặp Tuần, Triệt thì bớt tốt hoặc đến muộn; sao xấu gặp Tuần, Triệt thì bớt xấu. Vì vậy một cung có Tuần Triệt không mặc nhiên là điểm xấu; cần xem trong cung có sao gì.
- Cung vô chính diệu gặp Tuần hoặc Triệt thường được xem là đỡ bất lợi hơn, vì cung vốn "trống" nay có một yếu tố định hình. Nhiều tác giả cho rằng trường hợp gặp Tuần dễ chịu hơn gặp Triệt.
- Tuần và Triệt cùng phủ một cặp cung thường được hiểu là hai lực chặn gặp nhau, khiến cung đó ở mức trung bình, ít biến động theo cả hai chiều. Đây là điểm các sách bàn khác nhau nhiều.
- Tác động theo thời gian: Tuần, Triệt ở cung nào thì chủ yếu liên quan đến mảng đời của cung đó, và rõ hơn khi đại hạn đi qua cung đó.
Khi Tuần hay Triệt đóng ở cung Mệnh hoặc cung Thân, phần giải thích miễn phí trên lá số Huyền Cơ sẽ ghi riêng một mục, vì đây là hai cung có ảnh hưởng rộng nhất.
Ví dụ: Triệt ở cung Mệnh vô chính diệu
Lá số của một người nam sinh lúc 01:30 ngày 25/07/1990 tại Hà Nội (dữ liệu minh họa). Quy ra âm lịch là ngày 4 tháng 6 năm Canh Ngọ, giờ Sửu; Dương Nam, Mộc tam cục.
| Yếu tố | Trên lá số |
|---|---|
| Triệt | Can Canh nên Triệt ở Ngọ – Mùi, phủ cung Mệnh (Ngọ) và Phụ Mẫu (Mùi) |
| Tuần | Canh Ngọ thuộc tuần Giáp Tý nên Tuần ở Tuất – Hợi, phủ Quan Lộc (Tuất) và Nô Bộc (Hợi) |
| Cung Mệnh | Tại Ngọ, vô chính diệu, có Thiên Khôi; mượn chính tinh cung Thiên Di (Tý): Thiên Đồng vượng hóa Kỵ, Thái Âm vượng hóa Khoa |
| Quan Lộc, Nô Bộc | Quan Lộc vô chính diệu có Địa Không; Nô Bộc có Thiên Phủ đắc |
| Cung Thân | Thân cư Phúc Đức tại Thân, không bị Tuần hay Triệt |
| Đại hạn (đi thuận) | 3–12 Mệnh và 13–22 Phụ Mẫu (Triệt); 43–52 Quan Lộc và 53–62 Nô Bộc (Tuần) |
Cách đọc: theo quan niệm phổ biến, Triệt ở cung Mệnh làm tuổi nhỏ và tuổi trẻ nhiều lần đổi hướng, có việc phải làm lại; nhưng cũng chính quan niệm ấy coi Mệnh vô chính diệu gặp Triệt là bớt "trống", tính cách dần định hình rõ qua những lần đổi hướng. Hai đại hạn đầu (3–12 và 13–22) đều đi qua cặp cung có Triệt, nên nhận xét này chủ yếu thuộc về hai mươi năm đầu. Tuần ở Quan Lộc và Nô Bộc liên quan đến công việc và các mối quan hệ cộng sự, rõ hơn khi đại hạn đi vào hai cung này từ 43 tuổi: những gì đến chậm ở đây cần sự bền bỉ hơn là sự vội vàng. Muốn đọc tiếp các chặng đó, xem bài đại hạn, tiểu hạn và lưu niên.
Những hiểu lầm thường gặp
- "Tuần Triệt là sao xấu." Tuần và Triệt không phải sao cát hay hung; chúng điều chỉnh các sao khác trong cung.
- "Gặp Triệt là mất hết." Triệt làm chậm, làm đổi hướng; cung có Triệt vẫn được đọc theo sao trong cung, và sao xấu gặp Triệt còn được xem là nhẹ đi.
- "Tuần Triệt chỉ nằm ở một cung." Cả hai luôn phủ một cặp cung liền nhau.
- Tính sai năm sinh. Người sinh trước Tết mà lấy năm dương lịch sẽ an sai cả Tuần lẫn Triệt.
- Nhầm với Tuần Không trong Bát Tự. Tuần của Tử Vi chính là hai địa chi Tuần Không của trụ năm, nhưng Bát Tự còn xét Tuần Không của trụ ngày và dùng theo cách khác; năm của Bát Tự lại đổi ở Lập xuân chứ không ở Tết. Xem thêm Bát Tự là gì.
Nên nhìn Tuần Triệt thế nào?
Tuần và Triệt là một lớp điều chỉnh, không phải trung tâm của lá số. Hãy đọc chúng sau khi đã hiểu chính tinh, độ sáng và tam phương tứ chính, như trong bài cách xem lá số Tử Vi. Bạn có thể lập lá số miễn phí để thấy Tuần, Triệt của mình nằm ở cặp cung nào.