Bỏ qua đến nội dung

Tử Vi

Sinh sát ranh giới hai giờ (11h55: Tỵ hay Ngọ?), giờ Tý đầu và cuối, giờ đồng hồ miền Nam trước 1975

Ban biên tập Huyền CơXuất bản

11h55 là giờ Tỵ hay giờ Ngọ?

Là giờ Ngọ. Nhiều người nghĩ giờ Ngọ là "giữa trưa, 12 giờ" nên 11h55 vẫn thuộc giờ Tỵ, nhưng canh giờ không đổi ở giờ chẵn. Mỗi canh dài hai tiếng và bắt đầu ở giờ lẻ: Tỵ là 09:00–10:59, Ngọ là 11:00–12:59, Mùi là 13:00–14:59. Bảng mười hai canh giờ mà Huyền Cơ dùng trên mẫu lập lá số:

Canh giờGiờ đồng hồCanh giờGiờ đồng hồ
Tý23:00 – 00:59Ngọ11:00 – 12:59
Sửu01:00 – 02:59Mùi13:00 – 14:59
Dần03:00 – 04:59Thân15:00 – 16:59
Mão05:00 – 06:59Dậu17:00 – 18:59
Thìn07:00 – 08:59Tuất19:00 – 20:59
Tỵ09:00 – 10:59Hợi21:00 – 22:59

Vì thế 11h55 và 12h05 cho cùng một lá số. Lấy ví dụ người nam sinh ngày 03/05/1988 tại Hà Nội (ngày 18 tháng 3 năm Mậu Thìn): lập ở 11:55 hay 12:05 đều ra giờ Ngọ, Mệnh tại Tuất có Tử Vi và Thiên Tướng cùng vượng, Mệnh Thân đồng cung, Thủy nhị cục. Không có gì để băn khoăn ở mốc 12 giờ.

Chỗ đáng băn khoăn nằm ở mốc 11 giờ. Cũng người ấy, sinh 10:55 là giờ Tỵ: Mệnh dời sang Hợi với Thiên Lương hãm, Thân cư Phu Thê. Sinh 11:05 là giờ Ngọ: Mệnh Tuất, Tử Vi Thiên Tướng như trên. Mười phút, hai lá số không liên quan gì nhau. Bảng đầy đủ từng giờ đồng hồ có trong bài sinh lúc mấy giờ là giờ gì.

Khi nào mới thật sự là "sinh sát ranh giới"?

Khi giờ sinh ghi trong giấy tờ hoặc trong trí nhớ nằm trong khoảng mươi, mười lăm phút quanh một giờ lẻ: 00:50–01:10, 02:50–03:10, 04:50–05:10, và cứ thế. Ba điều khiến khoảng này rộng hơn người ta tưởng:

  • Đồng hồ ngày xưa không khớp nhau. Đồng hồ nhà, đồng hồ bệnh viện, đồng hồ của bà đỡ có thể lệch nhau năm, mười phút. Giấy chứng sinh ghi theo đồng hồ nào thì không ai biết.
  • Lúc nào được tính là lúc sinh. Giấy tờ y tế ghi giờ em bé ra đời, và Tử Vi dùng giờ ấy. Nhưng với ca sinh kéo dài, người nhà nhớ "lúc đưa vào phòng sinh" hay "lúc nghe tiếng khóc" có thể cách nhau nửa giờ.
  • Ghi làm tròn. Giờ sinh ghi "11 giờ" trong sổ tay của bà có thể là 10:50 hay 11:10 được làm tròn.

Nếu giờ sinh của bạn rơi vào khoảng này, bạn đang có hai ứng viên, không phải một. Cách xử lý ở phần cuối bài.

Giờ Tý đầu và giờ Tý cuối: sinh 23:30 tính ngày nào?

Giờ Tý là canh đặc biệt vì vắt qua nửa đêm. Nửa trước, 23:00–23:59, nằm trong ngày dương lịch cũ; nửa sau, 00:00–00:59, đã sang ngày mới. Câu hỏi là người sinh 23:30 lập lá số theo ngày nào.

Huyền Cơ theo quy ước phổ biến trên lá số Việt Nam: giờ Tý mở đầu một ngày, nên người sinh từ 23:00 đến 23:59 được tính là giờ Tý của ngày hôm sau; lá số an theo ngày âm lịch hôm sau và trụ ngày cũng là ngày hôm sau. Người sinh 00:30 cùng đêm cho ra đúng lá số ấy. Một số trường phái giữ nguyên ngày cũ cho nửa trước giờ Tý; quy ước này có trong hồ sơ tính toán của Huyền Cơ dưới dạng tùy chọn, không phải mặc định. Trang phương pháp tính toán ghi rõ.

Ví dụ minh họa với người nam sinh đêm 24 rạng 25/07/1990 tại Hà Nội:

Giờ sinhNgày âm lịch dùng để an saoCanh giờCung MệnhChính tinh thủ MệnhCục
22:30 ngày 24/073 tháng 6 Canh NgọHợiThânThất Sát miếuThủy nhị cục
23:30 ngày 24/074 tháng 6 Canh NgọTýMùiVô chính diệuMộc tam cục
00:30 ngày 25/074 tháng 6 Canh NgọTýMùiVô chính diệuMộc tam cục
01:30 ngày 25/074 tháng 6 Canh NgọSửuNgọVô chính diệuMộc tam cục

Hàng 23:30 và hàng 00:30 giống hệt nhau: cùng ngày, cùng giờ Tý. Hàng 22:30 khác hẳn, vì vừa khác canh vừa khác ngày âm lịch, nên không chỉ cung Mệnh mà cả ngày an Tử Vi cũng đổi. Người sinh "khoảng nửa đêm" vì thế nên lập ba lá số: giờ Hợi hôm trước, giờ Tý, giờ Sửu hôm sau. Cách giữ ngày cũ của trường phái khác sẽ cho hàng 23:30 một lá số khác nữa; nếu bạn từng xem ở nơi theo cách ấy, đó là lý do lá số không khớp.

"Giờ Tý canh ba" là mấy giờ? Người xưa chia đêm thành năm canh, mỗi canh hai tiếng: canh một giờ Tuất (19:00–20:59), canh hai giờ Hợi (21:00–22:59), canh ba giờ Tý (23:00–00:59), canh tư giờ Sửu (01:00–02:59), canh năm giờ Dần (03:00–04:59). "Canh ba" trong lời kể của ông bà chính là giờ Tý. Bảng này cũng là một mốc nhớ tốt khi hỏi người lớn tuổi.

Giờ đồng hồ miền Nam trước năm 1975 và những lần đổi giờ khác

Lá số Việt Nam lập theo giờ đồng hồ, và đồng hồ Việt Nam không phải lúc nào cũng chạy theo múi giờ UTC+7 như hôm nay. Bộ tính lịch của Huyền Cơ lưu các thời kỳ sau:

TừĐồng hồ chạy theoÁp dụng
01/01/1900Giờ trung bình Phù Liễn, UTC+7:06:30Cả nước
01/05/1911UTC+7Cả nước
31/12/1942, 23:00UTC+8Cả nước
14/03/1945, 23:00UTC+9Cả nước
02/09/1945UTC+7Cả nước
01/04/1947UTC+8Cả nước
01/07/1955, 01:00UTC+7Cả nước; miền Bắc giữ UTC+7 từ đây
31/12/1959, 23:00UTC+8Miền Nam
13/06/1975UTC+7Miền Nam, thống nhất với cả nước

Thời kỳ đáng chú ý với nhiều người đang sống là miền Nam từ cuối năm 1959 đến giữa năm 1975: đồng hồ Sài Gòn chạy trước giờ Việt Nam ngày nay một tiếng. Một em bé ra đời khi đồng hồ bệnh viện Từ Dũ chỉ 13:30 năm 1965 thì theo giờ UTC+7 là 12:30.

Huyền Cơ, như các trang lá số Việt Nam, lập lá số theo giờ đồng hồ ghi trên giấy tờ, không tự lùi một tiếng, để lá số của bạn khớp với lá số lập ở nơi khác. Điều đó có nghĩa là với người sinh ở miền Nam trong thời kỳ này, có hai cách đọc giờ sinh đều có lý: giờ như giấy ghi, và giờ ấy lùi một tiếng. Khi giờ ghi cách ranh giới canh dưới một tiếng, hai cách đọc rơi vào hai canh khác nhau.

Ví dụ minh họa: người nữ sinh ngày 20/10/1965 tại Sài Gòn (ngày 26 tháng 9 năm Ất Tỵ), giấy ghi 13:30. Đọc theo giấy là giờ Mùi: Mệnh tại Mão có Liêm Trinh và Phá Quân cùng hãm, Thân cư Phúc Đức, Thổ ngũ cục. Lùi một tiếng là 12:30, giờ Ngọ: Mệnh tại Thìn có Phá Quân đắc, Mệnh Thân đồng cung, Kim tứ cục. Hai lá số khác nhau từ Cục trở đi. Người này nên lập cả hai và đối chiếu với đời mình thay vì mặc định một bên.

Các thời kỳ 1942–1945 và 1947–1955 cũng lệch một đến hai tiếng, áp dụng cho cả nước theo bảng trên. Người sinh trong những năm ấy, nếu còn giờ sinh, nên làm cùng một việc: lập lá số theo giờ ghi và theo giờ đã quy về UTC+7, rồi đối chiếu.

Có cần hiệu chỉnh theo giờ mặt trời thực không?

Một số sách bàn đến việc quy giờ đồng hồ về giờ mặt trời tại nơi sinh, vì Hà Nội và Cà Mau cùng một múi giờ nhưng mặt trời lên đỉnh cách nhau vài chục phút. Huyền Cơ không hiệu chỉnh theo giờ mặt trời thực, và các trang lá số Việt Nam cũng không. Lý do thực tế: hiệu chỉnh ấy đẩy một số người sinh gần ranh giới sang canh bên cạnh, khiến lá số không còn khớp với lá số lập ở nơi khác, trong khi chính giờ sinh ghi trên giấy đã có sai số năm, mười phút. Nếu bạn sinh sát ranh giới và muốn tính đến yếu tố này, cách làm vẫn là coi canh bên cạnh như một ứng viên và đối chiếu.

Hai lá số, chọn bài nào đúng?

Mọi trường hợp trong bài đều dẫn đến cùng một tình thế: bạn có hai, đôi khi ba, lá số ứng viên, và chỉ một là của bạn. Cách chọn là cách thầy Tử Vi vẫn làm: lập từng lá số bằng công cụ lập lá số, đọc điều mỗi lá số nói về hai năm gần nhất và về những năm có việc lớn trong đời, rồi loại lá số nào kể sai một việc đã xảy ra. Bài không nhớ giờ sinh có xem Tử Vi được không hướng dẫn bước đối chiếu này và những bẫy cần tránh.

Với người chỉ phân vân giữa hai khung giờ, bước đối chiếu thường ngã ngũ nhanh, vì hai lá số liền canh nhau có cung Mệnh khác, cung Thân khác và thường cả bộ chính tinh khác. Huyền Cơ làm hộ phần so sánh: lập lá số ở từng khung giờ bạn nghi ngờ, luận hai năm gần nhất của mỗi khung, bạn chọn bài đúng với đời mình, rồi nhận lá số và bản luận giải theo giờ đã tìm ra. Đây là dịch vụ có phí, mô tả tại trang tìm giờ sinh để xem Tử Vi.

Câu hỏi liên quan

Sinh lúc 11h55 là giờ Tỵ hay giờ Ngọ?

Giờ Ngọ. Canh giờ đổi ở giờ lẻ: Tỵ là 09:00–10:59, Ngọ là 11:00–12:59. Mốc dễ lệch của giờ Ngọ là 11:00 và 13:00, không phải 12:00.

Sinh 23:30 thì lập lá số theo ngày nào?

Theo mặc định của Huyền Cơ, người sinh 23:00–23:59 thuộc giờ Tý của ngày hôm sau, nên lá số an theo ngày âm lịch hôm sau và giống lá số của người sinh 00:30 cùng đêm. Một số trường phái giữ ngày cũ; Huyền Cơ có quy ước ấy dưới dạng tùy chọn.

Giờ Tý canh ba là mấy giờ?

Canh ba là 23:00–00:59, tức giờ Tý. Năm canh đêm: canh một giờ Tuất (19:00–20:59), canh hai giờ Hợi, canh ba giờ Tý, canh tư giờ Sửu, canh năm giờ Dần (03:00–04:59).

Sinh ở Sài Gòn trước 1975 thì giờ sinh có cần lùi một tiếng không?

Từ 23:00 ngày 31/12/1959 đến 13/06/1975 đồng hồ miền Nam chạy theo UTC+8, trước giờ ngày nay một tiếng. Huyền Cơ và các trang lá số Việt Nam vẫn lập theo giờ ghi trên giấy. Nếu giờ ghi cách ranh giới canh dưới một tiếng, hãy lập thêm lá số theo giờ lùi một tiếng và đối chiếu với đời mình.

Không nhớ phút sinh, chỉ nhớ "khoảng 7 giờ sáng" thì sao?

"Khoảng 7 giờ" nằm đúng ranh giới Mão (05:00–06:59) và Thìn (07:00–08:59), nên bạn có hai ứng viên. Lập cả hai lá số, so với hai năm gần nhất và những năm có việc lớn, loại lá số kể sai. Huyền Cơ có dịch vụ có phí làm bước so sánh này.

Công cụ liên quan

Đọc thêm

Nguồn tham khảo và phương pháp

  1. Huyền Cơ: Phương pháp tính toán — Giờ đồng hồ được dùng như ghi trên giấy tờ, giờ Tý bắt đầu từ 23:00 của ngày hôm trước, không hiệu chỉnh giờ mặt trời thực, âm lịch Việt Nam UTC+7.
  2. Cơ sở dữ liệu múi giờ IANA (tz database), vùng Asia/Ho_Chi_Minh và Asia/Hanoi — Các thời kỳ giờ đồng hồ Việt Nam đổi múi giờ, được Huyền Cơ lưu trong bộ tính lịch.
  3. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư — Phép an cung Mệnh, cung Thân theo tháng và giờ sinh; định Cục; an Tử Vi theo Cục và ngày sinh; các sao an theo giờ.
  4. Tử Vi Đẩu Số Tân Biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang) — Cách an sao trên lá số Việt Nam: Văn Xương, Văn Khúc, Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thai Phụ, Phong Cáo theo giờ sinh.

Bài viết mang tính tham khảo văn hóa và chiêm nghiệm, không phải lời tiên đoán. Cách các công cụ của Huyền Cơ lập lá số, lập quẻ và chọn ngày được mô tả ở trang Phương pháp.

Phương pháp biên soạn và tính toán

Có thể bạn quan tâm