Chuẩn bị trước khi gieo
- Ba đồng xu cùng loại. Xu cổ lỗ vuông hay xu hiện đại đều được, miễn phân biệt rõ hai mặt. Với xu cổ, cách tính phổ biến trong Lục Hào lấy mặt lưng (không chữ) là 3 và mặt có chữ là 2; với tiền ngày nay, bạn tự quy ước mặt nào là ngửa và giữ nguyên quy ước ấy.
- Giấy bút để ghi từng lần gieo, hoặc mở sẵn trang xin quẻ nếu muốn nhập kết quả lên đó.
- Một câu hỏi đã viết ra, rõ ràng và chỉ về một việc.
- Một mặt phẳng như mặt bàn hay chiếc đĩa sứ, để đồng xu rơi gọn, không lăn mất.
Bảng quy đổi: từ mặt xu thành hào
Mặt ngửa tính 3, mặt sấp tính 2. Cộng ba đồng xu lại, bạn luôn được 6, 7, 8 hoặc 9.
| Kết quả tung | Tổng | Tên hào | Tĩnh hay động |
|---|---|---|---|
| sấp, sấp, sấp | 6 | Lão âm (ký hiệu ✕) | Động, biến thành dương |
| 1 ngửa, 2 sấp | 7 | Thiếu dương (nét liền) | Tĩnh |
| 2 ngửa, 1 sấp | 8 | Thiếu âm (nét đứt) | Tĩnh |
| ngửa, ngửa, ngửa | 9 | Lão dương (ký hiệu ○) | Động, biến thành âm |
Mẹo nhớ: khi ba đồng xu không giống nhau, đồng xu “lẻ loi” quyết định âm dương. Một đồng ngửa giữa hai đồng sấp thì ra hào dương (7); một đồng sấp giữa hai đồng ngửa thì ra hào âm (8). Khi cả ba đồng giống nhau, hào ấy động: ba ngửa là lão dương, ba sấp là lão âm.
Các bước gieo cụ thể
- Đọc lại câu hỏi vài lần, cho đến khi thấy mình thật sự tập trung vào nó.
- Khum hai bàn tay giữ ba đồng xu, lắc nhẹ vài lần rồi thả xuống mặt phẳng.
- Cộng điểm và ghi ngay: lần gieo thứ nhất là hào 1, vẽ ở dòng dưới cùng của tờ giấy.
- Lặp lại năm lần nữa, mỗi lần vẽ hào mới chồng lên trên hào trước, cho đến hào 6 ở trên cùng.
- Đánh dấu hào động: ghi ○ cạnh hào 9 và ✕ cạnh hào 6, để không quên khi lập quẻ biến.
- Nhận diện hai quẻ đơn: ba hào dưới là hạ quái, ba hào trên là thượng quái. Gọi tên quẻ theo tượng quẻ trên rồi quẻ dưới, hoặc tra ở trang 64 quẻ.
- Lập quẻ biến nếu có hào động: đổi 6 thành nét liền, 9 thành nét đứt, giữ nguyên các hào còn lại.
Nếu một đồng xu rơi khỏi bàn hoặc dựng đứng, nhiều người coi lần tung ấy chưa hoàn thành và tung lại đúng lần đó. Việc này khác hẳn với gieo lại cả quẻ vì không thích kết quả.
Vì sao lại là 6, 7, 8, 9?
Bốn con số này có từ phép cỏ thi Đại Diễn trong Hệ Từ truyện: sau ba lần chia đếm cọng cỏ, mỗi hào cho ra 6, 7, 8 hoặc 9. Số lẻ thuộc dương, số chẵn thuộc âm; 9 là dương đã già (lão dương), 6 là âm đã già (lão âm), đến cực nên phải chuyển. Tên hào trong Kinh Dịch cũng theo quy ước ấy: hào dương gọi là Cửu, hào âm gọi là Lục, như Sơ Cửu, Lục Nhị, Thượng Lục.
Phép ba đồng xu thay cho cỏ thi vì nhanh và đơn giản, mà vẫn giữ đủ bốn loại hào. Điểm khác là tỉ lệ. Với đồng xu, mỗi lần gieo có 1/8 khả năng ra 6, 3/8 ra 7, 3/8 ra 8 và 1/8 ra 9, nên hào dương động và hào âm động hiếm ngang nhau; với cỏ thi, hào dương động dễ xuất hiện hơn hào âm động. Tính trên cả quẻ, mỗi hào có 1/4 khả năng là hào động, nên trung bình một quẻ có khoảng một đến hai hào động.
Ví dụ: ghi lại một lần gieo
Ví dụ minh họa sau cho thấy cách ghi và lập quẻ từ sáu lần tung.
| Lần gieo | Mặt xu | Tổng | Hào |
|---|---|---|---|
| 1 | ngửa, sấp, sấp | 7 | thiếu dương |
| 2 | ngửa, ngửa, ngửa | 9 | lão dương ○ |
| 3 | ngửa, ngửa, sấp | 8 | thiếu âm |
| 4 | sấp, sấp, sấp | 6 | lão âm ✕ |
| 5 | ngửa, sấp, ngửa | 8 | thiếu âm |
| 6 | sấp, ngửa, sấp | 7 | thiếu dương |
Quẻ chủ. Ba hào dưới (hào 1 đến 3) là dương, dương, âm: quẻ Đoài, tượng đầm. Ba hào trên (hào 4 đến 6) là âm, âm, dương: quẻ Cấn, tượng núi. Núi trên, đầm dưới là quẻ Sơn Trạch Tổn, quẻ số 41.
Quẻ biến. Hào 2 (9) đổi thành âm, hào 4 (6) đổi thành dương. Ba hào dưới thành dương, âm, âm: quẻ Chấn, tượng sấm. Ba hào trên thành dương, âm, dương: quẻ Ly, tượng lửa. Quẻ biến là Hỏa Lôi Phệ Hạp, quẻ số 21.
Đọc lời kinh. Có hai hào động, nên theo cách đọc của Chu Hi, đọc lời cả hai hào động của quẻ Tổn và lấy hào trên, tức hào 4, làm chính: “Giảm bớt tật xấu của mình, làm cho mau chóng thì có niềm vui; không có lỗi.” Cách đọc các trường hợp khác được giải thích trong bài hào động và quẻ biến.
Nhập kết quả tự gieo vào Huyền Cơ
Nếu thích cầm xu thật, bạn cứ gieo theo các bước trên rồi vào trang xin quẻ Kinh Dịch, chọn mục nhập kết quả đã gieo và điền sáu giá trị theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6. Hệ thống lập quẻ từ đúng sáu giá trị ấy, kèm quẻ biến và bảng Lục Hào. Vì phép Lục Hào dùng can chi của tháng và ngày để xét hào mạnh yếu, và trang lấy thời điểm bạn lập quẻ làm mốc, hãy nhập ngay sau khi gieo. Nếu gieo trên trang, mỗi lần bấm là một lần tung ba đồng xu trên máy chủ, kết quả được ghi nhận ngay và không gieo lại. Toàn bộ quy trình từ câu hỏi đến lúc đọc quẻ có trong bài hướng dẫn gieo quẻ Kinh Dịch.
Những lỗi thường gặp
- Xếp hào từ trên xuống. Lần gieo đầu tiên là hào dưới cùng; xếp ngược sẽ ra một quẻ khác hẳn.
- Nhầm hai ngửa là hào dương. Theo cách tính điểm, hai ngửa một sấp là 8, hào âm.
- Đổi quy ước giữa chừng, chẳng hạn ba lần đầu coi mặt hình là ngửa, ba lần sau lại coi mặt số là ngửa.
- Quên đánh dấu hào động, dẫn tới thiếu quẻ biến, phần rất quan trọng khi đọc quẻ.
- Gieo lại cả quẻ vì kết quả khó hiểu hoặc không vừa ý.
- Để lâu mới nhập kết quả lên trang, khiến can chi ngày tháng không còn là của lúc gieo.