Thông tin nhanh
- Ngũ hành, âm dương: Thủy, thuộc Âm Thủy.
- Nhóm sao: chòm Thiên Phủ; là sao thứ hai của Bắc Đẩu.
- Hóa khí: Ám, tức sự che khuất; nên gọi là ám tinh.
- Độ sáng trên lá số Huyền Cơ: miếu ở Mão, Dậu; vượng ở Tý, Ngọ, Dần; đắc ở Thân, Hợi; hãm ở Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, Tỵ.
- Tứ Hóa có thể mang: Hóa Lộc (năm Tân), Hóa Quyền (năm Quý), Hóa Kỵ (năm Đinh).
Tính chất của sao Cự Môn
"Cự Môn" là cánh cửa lớn, và chữ "ám" nói về những gì nằm sau cánh cửa: điều chưa rõ, điều cần làm sáng tỏ. Sao chủ về ngôn ngữ, lý lẽ, sự nghi vấn và khả năng đào sâu. Người mang dấu ấn Cự Môn thường ăn nói sắc sảo, thích tranh luận, không dễ tin và muốn hiểu tận gốc. Đó là tố chất của người làm luật, giảng dạy, nghiên cứu, truyền thông, tư vấn.
Cánh cửa ấy cũng có thể đóng: sự hoài nghi thành đa nghi, lời nói thẳng thành lời làm tổn thương, và những hiểu lầm tích tụ thành thị phi.
Độ sáng thay đổi điều gì
Ở Tý, Ngọ, Cự Môn vượng và đứng một mình; sách cổ gọi là "thạch trung ẩn ngọc", ngọc ẩn trong đá, ý chỉ tài năng cần thời gian mài giũa mới lộ. Ở Mão, Dậu, sao miếu, thường đi cùng Thiên Cơ, tư duy nhạy bén. Ở tứ mộ và Tỵ, sao hãm: lời nói dễ gây hiểu lầm, nên chú ý cách diễn đạt và kiểm chứng trước khi phán đoán.
Cự Môn tại cung Mệnh
Cự Môn thủ Mệnh thường gợi người có khả năng ăn nói, phân tích và phản biện; hợp những việc cần lý lẽ. Họ có xu hướng thử thách điều được coi là hiển nhiên. Điều nên bồi đắp là sự mềm mại trong lời nói và niềm tin vừa đủ vào người khác.
Cự Môn ở các cung khác
- Quan Lộc: hợp nghề dùng lời: luật, giảng dạy, bán hàng, truyền thông, tư vấn.
- Tài Bạch: tiền đến qua lời nói và chuyên môn; cần hợp đồng rõ ràng.
- Phu Thê: hai người cần nói chuyện thẳng thắn nhưng tử tế; im lặng kéo dài dễ sinh hiểu lầm.
- Huynh Đệ, Nô Bộc: quan hệ nhiều trao đổi, đôi khi tranh luận.
Các thế đồng cung thường gặp
Cự Môn đi với Thái Dương ở Dần, Thân (xem cách Cự Nhật); với Thiên Cơ ở Mão, Dậu; với Thiên Đồng ở Sửu, Mùi. Khi đứng một mình, sao ở Tý, Ngọ đối diện Thiên Cơ, ở Thìn, Tuất đối diện Thiên Đồng, ở Tỵ, Hợi đối diện Thái Dương. Thái Dương sáng soi vào Cự Môn được xem là ánh sáng xua cái "ám", nên người xưa rất coi trọng vị trí của mặt trời khi luận Cự Môn.
Tứ Hóa trên Cự Môn
Hóa Lộc năm Tân biến lời nói thành lợi thế, thuận cho nghề dùng lời. Hóa Quyền năm Quý làm lời nói có trọng lượng. Hóa Kỵ năm Đinh là lời nhắc thận trọng với tranh cãi, cam kết miệng và những điều nói ra khi nóng giận.
Đọc Cự Môn trong bối cảnh lá số
Hãy xem Cự Môn sáng hay hãm, Thái Dương đang sáng hay tối và Tứ Hóa rơi vào đâu. Cự Môn là sao của câu hỏi; người đọc lá số nên hỏi sao được dùng để làm sáng tỏ hay để nghi ngờ. Lập lá số để xem Cự Môn trên lá số của bạn.