Lục Hào khác cách đọc Kinh Dịch thông thường ở đâu?
Cách đọc thông thường dựa vào tên quẻ, lời quẻ và lời hào: người đọc hiểu quẻ qua hình ảnh và nghĩa lý. Lục Hào giữ nguyên sáu hào ấy nhưng gắn cho mỗi hào một thiên can và một địa chi theo phép Nạp Giáp, nhờ đó mỗi hào mang một hành trong ngũ hành. Khi các hào đã có hành, người đọc xét được sinh khắc giữa chúng, với cung quẻ, và với tháng, ngày lúc gieo. Câu hỏi được trả lời qua những quan hệ cụ thể ấy chứ không chỉ qua ý nghĩa chung của quẻ.
Phép Nạp Giáp tương truyền từ Kinh Phòng đời Tây Hán, được ghi lại trong Kinh Thị Dịch truyện. Cách gieo tiền và an quẻ được mô tả trong những sách như Hỏa Châu Lâm, còn cách luận thì được đúc kết kỹ trong Bốc Phệ Chính Tông của Vương Hồng Tự và Tăng San Bốc Dịch của Dã Hạc lão nhân, đều ở đời Thanh.
Các thành phần của một quẻ Lục Hào
| Thành phần | Là gì | Dùng để |
|---|---|---|
| Nạp Giáp | Can chi gắn cho từng hào | Biết hành của mỗi hào |
| Cung | 8 cung, mỗi cung 8 quẻ | Định Lục Thân và vị trí Thế |
| Thế, Ứng | Thế là người hỏi, Ứng là phía bên kia | Xem tương quan hai phía |
| Lục Thân | Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Tử Tôn, Thê Tài, Quan Quỷ | Biết hào nào nói về việc gì |
| Lục Thần | Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ | Thêm sắc thái cho hào |
| Dụng Thần | Hào đại diện điều được hỏi | Tâm điểm khi luận |
| Nguyệt lệnh, nhật thần | Địa chi của tháng tiết khí và của ngày gieo | Đo hào mạnh hay yếu |
| Tuần Không | Hai địa chi “trống” theo ngày gieo | Xét hào chưa thực |
Nạp Giáp: gắn can chi cho sáu hào
Mỗi quẻ đơn có một bộ can chi riêng cho khi nó nằm ở dưới và khi nó nằm ở trên:
| Quẻ đơn | Ở dưới (hào 1, 2, 3) | Ở trên (hào 4, 5, 6) |
|---|---|---|
| Càn | Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn | Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất |
| Khảm | Mậu Dần, Mậu Thìn, Mậu Ngọ | Mậu Thân, Mậu Tuất, Mậu Tý |
| Cấn | Bính Thìn, Bính Ngọ, Bính Thân | Bính Tuất, Bính Tý, Bính Dần |
| Chấn | Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn | Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất |
| Tốn | Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu | Tân Mùi, Tân Tỵ, Tân Mão |
| Ly | Kỷ Mão, Kỷ Sửu, Kỷ Hợi | Kỷ Dậu, Kỷ Mùi, Kỷ Tỵ |
| Khôn | Ất Mùi, Ất Tỵ, Ất Mão | Quý Sửu, Quý Hợi, Quý Dậu |
| Đoài | Đinh Tỵ, Đinh Mão, Đinh Sửu | Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Mùi |
Địa chi quyết định hành của hào: Dần, Mão là Mộc; Tỵ, Ngọ là Hỏa; Thân, Dậu là Kim; Hợi, Tý là Thủy; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Thổ.
Tám cung, hào Thế và hào Ứng
Sáu mươi tư quẻ chia thành tám cung, mỗi cung đứng đầu là một quẻ thuần (hai quẻ đơn giống nhau) và mang hành của quẻ đơn ấy: Càn, Đoài hành Kim; Ly hành Hỏa; Chấn, Tốn hành Mộc; Khảm hành Thủy; Cấn, Khôn hành Thổ. Từ quẻ thuần, đổi lần lượt hào 1, rồi hào 2… sẽ ra các quẻ còn lại trong cung. Thứ bậc của quẻ trong cung quyết định vị trí hào Thế:
| Thứ bậc trong cung | Hào Thế |
|---|---|
| Bản cung (quẻ thuần) | Hào 6 |
| Nhất thế đến Ngũ thế | Hào 1 đến hào 5 |
| Du hồn (quẻ thứ bảy) | Hào 4 |
| Quy hồn (quẻ thứ tám) | Hào 3 |
Hào Ứng luôn cách hào Thế ba vị: Thế ở hào 1 thì Ứng ở hào 4, Thế ở hào 6 thì Ứng ở hào 3. Hào Thế đại diện người hỏi, tâm thế và vị trí của mình; hào Ứng đại diện phía bên kia: đối phương, đối tác, nơi chốn hay việc mình hướng tới.
Lục Thân: năm vai theo sinh khắc với cung
So hành của từng hào với hành của cung, gọi cung là “ta”:
- Huynh Đệ: cùng hành với ta. Anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, người cạnh tranh; cũng gắn với chi tiêu, chia phần.
- Tử Tôn: ta sinh ra. Con cháu, người dưới, niềm vui, sự thư thái; là vai khắc Quan Quỷ.
- Thê Tài: ta khắc. Tiền bạc, tài sản, hàng hóa; khi nam hỏi chuyện tình cảm là người vợ, người yêu.
- Quan Quỷ: khắc ta. Công danh, chức vụ, cấp trên, luật lệ; khi nữ hỏi chuyện tình cảm là người chồng, người yêu; cũng gắn với áp lực, lo lắng.
- Phụ Mẫu: sinh ra ta. Cha mẹ, thầy cô, nhà cửa, xe cộ, giấy tờ, hợp đồng, tin tức, việc học.
Năm hành chia cho sáu hào nên luôn có vai xuất hiện hai lần, và có khi có vai vắng mặt. Vai vắng mặt được tìm trong quẻ thuần của cung, ở cùng vị trí hào, gọi là phục thần; hào đang hiện bên trên gọi là phi thần.
Lục Thần, còn gọi Lục Thú
Lục Thần an theo thiên can của ngày gieo, bắt đầu từ hào 1: ngày Giáp, Ất khởi Thanh Long; Bính, Đinh khởi Chu Tước; Mậu khởi Câu Trần; Kỷ khởi Đằng Xà; Canh, Tân khởi Bạch Hổ; Nhâm, Quý khởi Huyền Vũ; rồi đi lên theo thứ tự Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ. Thanh Long gợi hỷ sự, Chu Tước gợi lời nói và văn thư, Câu Trần gợi sự trì trệ, ruộng đất, Đằng Xà gợi lo nghĩ, quanh co, Bạch Hổ gợi sự gấp gáp, cương mãnh, Huyền Vũ gợi sự kín đáo, mờ ám. Theo Tăng San Bốc Dịch, Lục Thần chỉ tô thêm sắc thái; hào mạnh hay yếu vẫn xét bằng ngũ hành.
Dụng Thần, vượng suy và Tuần Không
Dụng Thần là hào đại diện cho điều được hỏi: hỏi tiền bạc xem Thê Tài, hỏi công danh xem Quan Quỷ, hỏi nhà cửa, giấy tờ, việc học xem Phụ Mẫu, hỏi việc của bản thân xem hào Thế. Cách chọn theo từng nhóm câu hỏi có trong bài cách đặt câu hỏi khi gieo quẻ.
Nguyệt lệnh là địa chi của tháng tiết khí lúc gieo, tính từ ngày giao tiết chứ không theo tháng âm lịch. So hành của hào với hành của tháng cho năm trạng thái: Vượng (cùng hành), Tướng (được tháng sinh), Hưu (sinh cho tháng), Tù (khắc tháng), Tử (bị tháng khắc). Hào bị địa chi tháng xung gọi là nguyệt phá.
Nhật thần là địa chi của ngày gieo. Ngày sinh hào thì hào được tiếp sức, ngày khắc hào thì hào bị chế ngự. Ngày xung một hào tĩnh đang vượng tướng gọi là ám động, như được đánh thức; xung một hào tĩnh đang hưu tù gọi là nhật phá.
Tuần Không: mỗi tuần mười ngày can chi có hai địa chi không được phối với thiên can. Hào mang địa chi đó được xem là chưa thực, tác động tạm treo, cho đến khi ra khỏi tuần hoặc gặp ngày xung.
Ví dụ: an một quẻ Thiên Phong Cấu
Ví dụ minh họa. Quẻ gieo lúc 8 giờ 30 ngày 16/9/2026, tức ngày Quý Tỵ, tháng Đinh Dậu (từ tiết Bạch Lộ, lệnh tháng Dậu). Sáu hào từ dưới lên là 8, 7, 9, 7, 7, 7.
- Quẻ chủ và quẻ biến. Ba hào dưới âm, dương, dương là Tốn; ba hào trên đều dương là Càn: Thiên Phong Cấu, quẻ số 44. Hào 3 động, quẻ dưới thành Khảm: quẻ biến Thiên Thủy Tụng, quẻ số 6.
- Nạp Giáp. Tốn ở dưới cho hào 1, 2, 3 là Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu; Càn ở trên cho hào 4, 5, 6 là Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất.
- Cung, Thế, Ứng. Cấu là quẻ Nhất thế của cung Càn (hành Kim), nên Thế ở hào 1, Ứng ở hào 4.
- Lục Thân so với Kim: Sửu, Tuất (Thổ sinh Kim) là Phụ Mẫu; Hợi (Thủy, do Kim sinh) là Tử Tôn; Dậu, Thân (Kim) là Huynh Đệ; Ngọ (Hỏa khắc Kim) là Quan Quỷ. Vai Thê Tài (Mộc) vắng mặt, nên tìm trong quẻ Thuần Càn: dưới hào 2 có phục thần Thê Tài Giáp Dần.
- Lục Thần. Ngày Quý nên hào 1 khởi Huyền Vũ, rồi lên Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ.
- Tháng, ngày, Tuần Không. Ngày Quý Tỵ thuộc tuần Giáp Thân, Tuần Không là Ngọ và Mùi.
| Hào | Lục Thần | Lục Thân, can chi | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 6 | Bạch Hổ | Phụ Mẫu Nhâm Tuất Thổ | Hưu |
| 5 | Đằng Xà | Huynh Đệ Nhâm Thân Kim | Vượng |
| 4 | Câu Trần | Quan Quỷ Nhâm Ngọ Hỏa | Ứng; lâm Tuần Không |
| 3 | Chu Tước | Huynh Đệ Tân Dậu Kim | Động, hóa Mậu Ngọ Hỏa (hồi đầu khắc, hóa không) |
| 2 | Thanh Long | Tử Tôn Tân Hợi Thủy | Tướng, bị ngày Tỵ xung nên ám động; phục Thê Tài Giáp Dần |
| 1 | Huyền Vũ | Phụ Mẫu Tân Sửu Thổ | Thế; được ngày Tỵ sinh |
Đọc bảng: hào 3 Dậu Kim đang Vượng vì cùng hành với tháng Dậu, nhưng khi động lại biến ra Ngọ Hỏa khắc ngược (hồi đầu khắc), và hào biến ấy rơi vào Tuần Không. Hào Ứng Ngọ lâm Không, theo sách thường gợi phía bên kia chưa thật sự sẵn sàng hoặc chưa rõ ý. Nếu câu hỏi là về tiền bạc, Dụng Thần Thê Tài không hiện mà phục dưới hào 2; phi thần Hợi Thủy sinh cho phục thần Dần Mộc, nhưng Dần Mộc lại bị tháng Dậu khắc (trạng thái Tử). Tất cả những dữ kiện này đều hiện sẵn trên bảng quẻ miễn phí khi bạn gieo quẻ trên Huyền Cơ; việc của người đọc là ghép chúng lại theo câu hỏi, như trong bài cách luận quẻ.
Những sai lầm thường gặp
- Lấy tháng âm lịch làm nguyệt lệnh. Lục Hào dùng tháng tiết khí; đầu tháng âm lịch có khi vẫn thuộc tháng tiết khí trước.
- Coi Lục Thần là yếu tố quyết định. Lục Thần chỉ thêm sắc thái; sức mạnh của hào xét bằng ngũ hành và vượng suy.
- Quên phục thần khi Dụng Thần không hiện, rồi vội kết luận là “không có”.
- Coi Tuần Không là mất hẳn. Tuần Không là tạm treo; sách cổ còn xét lúc xuất không.
- Hiểu Quan Quỷ theo nghĩa ma quỷ. Đây là tên một vai trong Lục Thân, thường chỉ công danh, cấp trên, áp lực.
- Trộn quy ước giữa các phần mềm. Cách tính Lục Thân của quẻ biến hay mốc đổi ngày có thể khác nhau; Huyền Cơ công bố quy ước của mình ở trang phương pháp.