Thứ tự thầy xưa dạy
Người mới xem chỉ tay hay bắt đầu bằng việc tìm đường Sinh đạo rồi hỏi nó dài hay ngắn. Thầy xưa không làm thế. Ma Y dạy xem tay theo thứ tự: trước xem hình bàn tay, rồi xem các gò, rồi mới đến đường, vì đường là chữ viết trên một trang giấy và phải biết trang giấy ấy là giấy gì đã. Benham, người viết bộ sách xem tay chặt chẽ nhất của phương Tây, cũng mở đầu bằng hình bàn tay và các gò trước khi nói đến bất kỳ đường nào.
Bài này đi theo đúng thứ tự ấy. Mỗi mục chỉ nói điều cần để bắt đầu; mục nào có trang tra cứu riêng thì dẫn sang để đọc sâu.
Bước 1: xem tay nào
Theo lệ Việt Nam, nam lấy tay trái làm tay tiên thiên, nữ lấy tay phải; tay còn lại là tay hậu thiên. Tay tiên thiên là cái gốc, cái trời cho và gia đình để lại; tay hậu thiên là cái đời đã làm ra. Sách Tây lấy tay thuận làm tay đời, không phân nam nữ; hai lệ khác nhau nhưng cùng một ý: một tay là gốc, một tay là đời.
Cách tốt nhất là đọc cả hai tay và để ý chỗ chúng khác nhau, vì chỗ khác nhau ấy là nơi người ta thấy mình đã tự đổi số đến đâu. Chi tiết và những trường hợp hay hỏi (người thuận tay trái, hai tay khác hẳn nhau) ở bài xem chỉ tay tay trái hay tay phải và trang xem chỉ tay tay nào.
Bước 2: hình bàn tay và độ dày
Đặt bàn tay lên bàn, nhìn lòng tay vuông hay dài, ngón dài hay ngắn, thịt dày hay gầy. Ma Y chia năm hình theo ngũ hành: Kim vuông chắc, Mộc dài đốt nổi, Thủy mềm tròn, Hỏa lòng dài ngón nhọn, Thổ dày ngắn. Sách Tây chia bốn loại đất, khí, lửa, nước theo hai phép đo lòng tay và ngón. Cách xác định và nghĩa từng hình ở trang hình bàn tay ngũ hành.
Vì sao phải xem hình trước: cùng một Sinh đạo mờ, trên bàn tay Thủy mềm là chuyện thường, trên bàn tay Kim chắc là điều đáng để ý. Không có khung thì đọc đường sai.
Ấn vào lòng tay: dày và săn là sức bền; dày mà nhão là ham hưởng; mỏng mà săn là nhanh nhạy. Lệ Việt khen bàn tay dày hồng hào; đọc đúng là có sức và có nền. Xem thêm bàn tay dày hay mỏng.
Bước 3: chín gò
Khum nhẹ tay dưới ánh sáng xiên, nhìn chỗ nào gồ lên. Bốn gò dưới bốn ngón: Mộc tinh dưới ngón trỏ (chí tiến thân), Thổ tinh dưới ngón giữa (bổn phận), Thái dương dưới ngón áp út (cái đẹp và tiếng tăm), Thủy tinh dưới ngón út (lời nói, buôn bán). Gò Kim tinh ở gốc ngón cái là sức sống và lòng ấm; gò Thái âm ở cạnh ngoài phía cổ tay là tưởng tượng và duyên đi xa; hai gò Hỏa tinh ở hai cạnh là gan và sức chịu; bình nguyên Hỏa tinh ở giữa là cách giữ.
Gò nào nổi nhất là mặt đời người ấy mạnh nhất, và là nghề nên dựa vào. Bản đồ chín gò và dấu trên từng gò ở trang các gò trên bàn tay.
Bước 4: ba đường chính
| Đường | Ở đâu | Nói về | Điều hay hỏi |
|---|---|---|---|
| Sinh đạo (Địa văn) | Ôm quanh gốc ngón cái, từ kẽ ngón cái và ngón trỏ xuống cổ tay | Sức bền, nếp sống, những quãng đổi đời | Ngắn có sao không, đứt đoạn là gì |
| Trí đạo (Nhân văn) | Ngang giữa lòng tay, từ cạnh ngón cái ra cạnh ngoài | Cách nghĩ, cách quyết | Dài hết bàn tay, rẽ hai nhánh |
| Tâm đạo (Thiên văn) | Ngang trên cùng, từ dưới ngón út về ngón trỏ | Cách yêu và gắn bó | Kết ở đâu, chẻ, đứt |
Hai điều người mới hay đọc sai. Một: độ dài Sinh đạo không phải tuổi thọ; Cheiro và Benham đều viết rõ, và trang đường sinh đạo ngắn có sao không nói kỹ. Hai: Tâm đạo nói cách yêu, không nói cưới mấy lần; chuyện ấy ở đường Hôn nhân, và cũng không đếm được như người ta tưởng.
Nhìn thêm chỗ Sinh đạo và Trí đạo bắt đầu: dính nhau một đoạn là người thận trọng, lớn lên trong vòng tay gia đình; rời ngay từ đầu là người tự lập sớm, và nếu rời rõ thì gọi là chỉ tay chữ xuyên. Hai đường ngang nhập làm một là bàn tay chữ nhất, dấu có nghĩa riêng.
Bước 5: đường phụ
Đường dọc lên ngón giữa là Định mệnh, đường của việc làm; lên ngón áp út là Thái dương, đường của tiếng tăm; chéo lên ngón út là Sức khỏe, đường của khí lực và sự nhạy trong làm ăn; vạch ngang ở cạnh ngoài dưới ngón út là Hôn nhân; vạch ngang từ cạnh gò Thái âm vào là Xuất ngoại; vòng ngang ở cổ tay là ngấn cổ tay. Bảng đủ mười tám đường ở bài các đường chỉ tay và ý nghĩa.
Không có một đường phụ nào đó là chuyện bình thường. Nhiều người không có Định mệnh mà làm ăn rất khá; nhiều người không có Thái dương mà nên nghiệp lớn, chỉ ít người biết tên.
Bước 6: dấu trên đường và tuổi
Đảo, chuỗi, chỗ đứt, nhánh, sao, thập tự, tam giác, vuông, lưới: mỗi dấu một nghĩa, và nghĩa đổi theo chỗ nằm. Điều làm xem chỉ tay khác với đoán mò là mỗi dấu có một tuổi: Sinh đạo đọc từ trên xuống, Định mệnh đọc từ cổ tay lên với chỗ cắt Trí đạo khoảng ba mươi lăm và chỗ cắt Tâm đạo khoảng năm mươi, Trí đạo và Tâm đạo đọc theo gốc ngón mà chúng đi qua, đường Hôn nhân đọc theo độ cao. Sai số chừng ba năm. Huyền Cơ đo các mốc ấy trên tay của từng người theo cách ghi ở Phương pháp tính toán.
Khi gặp một dấu, tính tuổi trước khi đoán nghĩa. Nếu tuổi ấy đã qua, người đọc tự nhớ ra chuyện gì, và đó là cách kiểm hay nhất cho mọi lời xem tay. Trang hình đảo, chỗ đứt, hình sao và hình vuông đọc từng dấu.
Bước 7: hoa tay, ngón và móng
Hoa tay là vân xoáy khép kín ở đầu ngón; móc và vòng cung không tính. Dân gian đếm số xoáy trên mười ngón rồi tra câu vè, và cách đọc có lý hơn là đọc theo ngón có xoáy. Bài hoa tay là gì nói cách đếm và giới hạn của trò này.
Ngón cái là ý chí và lý trí; ngón trỏ là chí; ngón út là lời nói. Móng là lớp đọc nhẹ về tính nết, không đọc sức khỏe. Các trang ngón cái, ngón út ngắn và hình dáng móng tay có bảng riêng.
Bước 8: đọc hai tay cạnh nhau
Đây là bước làm nên một bài xem tay có hồn. Đặt hai tay cạnh nhau, so từng đường: đường có ở tay hậu thiên mà không có ở tay tiên thiên là việc đời đã thêm vào; đậm hơn là đã rèn; đứt ở một tay là chuyện của riêng tay ấy. Người tay hậu thiên rõ hơn tay tiên thiên là người tự làm nên; ngược lại là người có gốc tốt mà chưa dùng hết.
Năm lỗi người mới hay mắc
- Đọc tuổi thọ trên Sinh đạo. Không sách nào đứng đắn làm thế.
- Đếm vạch Hôn nhân ra số lần cưới, đếm vạch con cái ra số con. Vạch ghi mối gắn bó và duyên với trẻ, không ghi giấy tờ. Xem bài đường hôn nhân trên bàn tay.
- Xem một tay rồi kết luận. Luôn xem cả hai.
- Xem dưới đèn vàng hoặc trên ảnh tối: đường mờ thành không có, nếp da thành dấu. Cách chụp để đọc đúng ở bài xem chỉ tay qua ảnh.
- Tin dấu giàu nghèo. Tiền đi theo việc làm và cách giữ, không theo một hình trên tay; bài chỉ tay giàu có phân biệt dấu có trong sách và dấu bị thổi phồng.
Bàn tay và lá số
Bàn tay nói về người: sức, tính, cách yêu, cách làm. Lá số nói về thời: năm nào việc gì đến. Đọc cả hai thì biết cả đường lẫn lúc; bài chỉ tay và lá số nói cách đọc chung, và lập lá số Tử Vi ở Huyền Cơ là miễn phí.